Tải về định dạng Word (61KB)

Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 186:1993 về quy phạm khảo nghiệm hiệu lực của thuốc trừ cỏ hại ngô trên đồng ruộng

TIÊU CHUẨN NGÀNH

10 TCN 186:1993

QUY PHẠM KHẢO NGHIỆM

HIỆU LỰC CỦA THUỐC TRỪ CỎ HẠI NGÔ TRÊN ĐỒNG RUỘNG 

1. Quy định chung

1.1. Quy phạm này quy định những nguyên tắc, nội dung và phương pháp chủ yếu để đánh giá hiệu lực trừ cỏ của các loại thuốc trừ cỏ hại ngô.

1.2. Các khảo nghiệm phải được tiến hành tại các điểm nằm trong mạng lưới khảo sát của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, của các cơ sở nghiên cứu Trung ương và địa phương, của các Chi cục Bảo vệ thực vật.

1.3. Những điều kiện khảo nghiệm :

Các khảo nghiệm phải được bố trí trên những ruộng ngô thường xuất hiện cỏ dại có thành phần cỏ dại đại diện cho vùng gồm những loài cỏ nằm trong phổ tác động của thuốc định khảo nghiệm (cỏ hoà thảo, cỏ lác, cỏ lá rộng...)

Các điều kiện trồng trọt (loại đất, phân bón, cách làm đất ...) phải đồng đều trên mỗi ô thí nghiệm và phải phù hợp với tập quán canh tác ở địa phương.

1.4 Các thí nghiệm trên ô nhỏ và ô lớn có thể được tiến hành ở các vùng sinh thái khác nhau, trong các thời vụ khác nhau, nhưng nhất thiết phải tiến hành trên ô nhỏ trước. Nếu chúng cho kết quả tốt mới thực hiện tiếp trên diện rộng. Việc khảo nghiệm thuốc trừ cỏ trên diện rộng là yêu cầu bắt buộc để đánh giá hoàn chỉnh một loại thuốc.

2. Phương pháp khảo nghiệm

2.1. Sắp xếp và bố trí công thức khảo nghiệm: Công thức khảo nghiệm được chia làm ba nhóm:

- Các thuốc khác nhau, dùng ở những liều lượng khác nhau theo cách dùng khác nhau dự định khảo nghiệm.

- Thuốc so sánh: Là các loại thuốc đang được dùng phổ biến ở địa phương để trừ cỏ trên ruộng ngô, tuỳ thuộc vào mục tiêu thực tế của từng khảo nghiệm.

- Công thức đối chứng:

+ Đối chứng làm cỏ bằng tay: Tiến hành làm cỏ bằng tay theo tập quán canh tác ở địa phương.

+ Đối chứng không làm cỏ: Để cỏ mọc tự nhiên từ đầu vụ cho tới lúc thu hoạch.

Trong từng lần nhắc lại của thí nghiệm, các công thức được sắp xếp theo phương pháp ngẫu nhiên hoặc theo các phương pháp khác đã được qui định trong thống kê toán học.

2.2. Kích thước ô và số lần nhắc lại:

Ruộng thí nghiệm phải bằng phẳng, có sự đồng đều về độ sinh trưởng của cây.

Tuỳ theo dạng thuốc (thuốc bột, thuốc hạt, thuốc nước) và công cụ phun, rải thuốc (bơm tay, bơm động cơ) mà các ô thí nghiệm cần có kích thước thích hợp

Diện tích ô tối thiểu : 25m2 (5m x 5m).

Hình dạng ô: Các ô thí nghiệm có dạng hình vuông hay gần vuông là thích hợp.

Số lần nhắc lại: 4 lần với thí nghiệm diện hẹp. Với các thử nghiệm trên diện rộng không nhất thiết phải bố trí các lần nhắc lại.

Những thử nghiệm diện rộng cần được bố trí trên các ô có diện tích tối thiểu 1.000m2.

2.3. Tiến hành phun, rải thuốc

2.3.1. Thuốc phải được phun, rải đều trên toàn ô thí nghiệm.

2.3.2. Lượng thuốc được tính bằng gam hoạt chất trên đơn vị diện tích 1 ha.

Lượng nước dùng: Phải tuân thủ theo từng khuyến cáo cụ thể phù hợp với phương thức tác động của từng loại thuốc. Bảo đảm lượng nước (khi phun bằng bình bơm tay đeo vai):

- Dạng thuốc trừ cỏ trước nảy mầm : 300 l/ha.

- Dạng thuốc trừ cỏ sau nảy mầm : 500 l/ha.

Các số liệu về nồng độ (%) và lượng nước dùng (lít/ha) cần được ghi rõ.

Trên những khảo nghiệm diện hẹp chỉ nên dùng bình bơm tay đeo vai để phun rải. Trên những khảo nghiệm diện rộng (từ 500m2 trở lên) có thể dùng bình bơm động cơ để phun.

Cần phun rải đúng lượng thuốc đã qui định cho mỗi ô thí nghiệm. Trường hợp trong khi phun rải thuốc do một sai sót nào đó mà lượng thuốc dùng trên một ô vượt quá hoặc hụt quá 10% lượng thuốc dự kiến thì cần ghi lại cẩn thận, đầy đủ.

Chú ý: Không để thuốc ở ô này tạt sang các ô khác.

2.3.3. Nếu ruộng khảo nghiệm bắt buộc phải sử dụng các thuốc trừ dịch hại khác để phòng trừ sâu, bệnh .... thì những loại thuốc này phải là các loại thuốc có thể dùng được với từng loại thuốc khảo nghiệm theo khuyến cáo của cơ sở sản xuất và cần được phun rải đồng đều cho toàn ruộng khảo nghiệm (kể cả ô đối chứng) không phun rải cùng một lúc với thuốc trừ cỏ đang khảo nghiệm, phải ghi chép đầy đủ các trường hợp trên (nếu có).

2.3.4. Cần dùng các công cụ phun rải thuốc thông dụng ở địa phương, phải ghi chép đầy đủ tình hình vận hành của công cụ phun rải thuốc cũng như giai đoạn sinh trưởng của cây ngô và cỏ dại tại thời điểm xử lý thuốc.

2.4. Thời điểm và số lần xử lý thuốc:

Thời điểm và số lần xử lý thuốc có quan hệ chặt chẽ đến sự nảy mầm của ngô và cỏ. Thuốc trừ cỏ có thể được xử lý vào các thời điểm:

- Trước khi gieo hạt

- Trước khi hạt nảy mầm

- Sau khi hạt nảy mầm.

Giai đoạn sinh trưởng của ngô và cỏ dại tại thời điểm xử lý thuốc cần được ghi lại.

Thời điểm và số lần xử lý thuốc phải thực hiện đúng theo hướng dẫn sử dụng của từng loại thuốc khảo nghiệm.

Nếu trên nhãn không ghi cụ thể thời điểm xử lý thuốc thì tùy theo mục đích khảo nghiệm và đặc tính tác động của thuốc mà qui định thời điểm và số lần xử lý thuốc cho thích hợp. Số lần và ngày xử lý thuốc cần được ghi lại.

2.5. Quan sát và thu thập số liệu:

2.5.1. Đánh giá hiệu lực của thuốc đối với cỏ:

2.5.1.1. Điều tra thành phần cỏ dại

Trên mỗi ô chọn 5 điểm ngẫu nhiên, mỗi điểm là một khung vuông có kích thước 0,5m x 0,5m. Đếm số cây cỏ của từng loại và chia làm 3 mức.

Rất phổ biến                  : +++    Loài cỏ đó chiếm 70%

Phổ biến                       : ++      Loài cỏ đó chiếm 10%-70%

ít (hiếm)                        : +        Loài cỏ đó chiếm 10%

Ngoài ra cần quan sát trên cả ô thí nghiệm, nếu có thêm loài cỏ nào mới, cần bổ sung vào thành phần cho đủ.

2.5.1.2. Đánh giá hiệu lực của thuốc đối với cỏ.

Mỗi ô thí nghiệm cũng lấy 5 điểm ngẫu nhiên theo 2 đường chéo. Dùng khung vuông có kích thước 0,5m x 0,5m đặt xuống điểm định điều tra, lấy dao vạch cho đứt những cỏ mọc từ ngoài lan bò vào trong khung hoặc ngược lại. Cắt toàn bộ số cỏ mọc trong khung điều tra. Phân từng loại cỏ phổ biến trên ruộng thí nghiệm và phân từng nhóm: cỏ lá rộng, cỏ lá hẹp, cỏ lác đối với những loài cỏ ít phổ biến, rồi cân trọng lượng riêng.

Đánh giá trọng lượng cỏ có 2 cách:

- Cân trọng lượng cỏ tươi: Các mẫu cỏ gộp lại của 5 điểm điều tra trong 1 lần nhắc lại được để riêng, ngâm vào trong nước 1 giờ, vớt ra, vẩy cho hết nước rồi cân ngay.

- Cân trọng lượng cỏ khô: Các mẫu cỏ gộp lại của 5 điểm điều tra trong 1 lần nhắc lại được để riêng, cho vào tủ sấy ở nhiệt độ 105-110oC cho tới khi có trọng lượng không đổi. Để nguội trong bình hút ẩm và cân.

Cần ghi rõ phương pháp đánh giá trọng lượng cỏ (tươi hay khô). Những triệu chứng cỏ dại chết, tốc độ cỏ chết, diễn biến cỏ chết, khả năng phục hồi của cỏ dại cần được quan sát tỉ mỉ và ghi lại.

2.5.2. Đánh giá ảnh hưởng của thuốc đến cây ngô:

Cần quan sát mọi ảnh hưởng tốt, xấu của thuốc (nếu có) đến cây ngô. Những chỉ tiêu nào có thể đo đếm được như: chiều cao cây vv... cần được biểu thị bằng những số liệu cụ thể.

Phương pháp điều tra các chỉ tiêu này cần theo đúng các phương pháp theo dõi sinh trưởng ngô.

Các chỉ tiêu chỉ có thể đánh giá bằng mắt như: sự thay đổi màu sắc của lá, sự cháy lá, vv... thì phải đánh giá theo bảng phân cấp ở phụ lục 1.

Mọi triệu chứng gây hại hoặc kích thích của thuốc đối với cây ngô cần được mô tả một cách đầy đủ và chi tiết.

Tính năng suất ngô:

- Đối với các ô có diện hẹp: Trừ mỗi chiều của ô 0,5 m rồi thu hoạch trên toàn bộ diện tích còn lại.

- Đối với các ô thí nghiệm diện rộng (trên 500m2) cần đánh giá năng suất theo phương pháp thống kê: Mỗi ô chọn 5 điểm ngẫu nhiên trên hai đường chéo góc, mỗi điểm có diện tích 9m2 (3m x 3m).

Năng suất ngô được tính bằng kg bắp ngô không bẹ hoặc ngô hạt khô/ha. Ngô khô là ngô có hàm lượng nước 14%.

2.5.3. ảnh hưởng của thuốc đến sinh vật khác:

Ghi chép mọi ảnh hưởng tốt, xấu (nếu có) của thuốc đến sự xuất hiện của các loài sâu, bệnh, cỏ dại khác cũng như những sinh vật không thuộc đối tượng phòng trừ (động vật có ích, động vật hoang dã ... ).

Cần theo dõi và đánh giá sự ảnh hưởng của thuốc đến cây trồng ở vụ tiếp theo.

2.5.4. Thời điểm và số lần quan sát.

2.5.4.1. Đối với cỏ dại.

2.5.4.1.1. Với thuốc trừ cỏ xử lý trước nảy mầm:

- Khi cỏ ở ô đối chứng không xử lý đã mọc đều, đếm số cỏ lá rộng, lá hẹp, lác (không cân trọng lượng).

- Trước khi vun gốc ngô: Đếm và cân từng loài cỏ chính phổ biến, từng nhóm cỏ đối với các loài cỏ ít phổ biến.

- Trước thu hoạch: Đếm và cân từng loài, từng nhóm như trên.

2.5.4.1.2. Với thuốc trừ cỏ xử lý sau nảy mầm.

- Trước khi xử lý thuốc: Đếm và cân từng loài, từng nhóm cỏ.

- Trước khi vun gốc ngô: Đếm và cân từng loài, từng nhóm cỏ.

- Trước thu hoạch 2 tuần: Đếm và cân từng loài, từng nhóm cỏ.

2.5.4.2. Đối với ngô:

2.5.4.2.1. Với thuốc trừ cỏ xử lý trước nảy mầm.

- Khi cây ngô mọc: Đếm và tính tỷ lệ nẩy mầm.

- Sau đó, cứ 10 ngày 1 lần đo chiều cao, đếm số lá, tốc độ ra cờ, phun râu.

- Năng suất.

2.5.4.2.2. Với thuốc trừ cỏ xử lý sau nảy mầm.

- Sau xử lý 1 tuần quan sát ảnh hưởng của thuốc đối với ngô       (phụ lục 1). Sau đó cứ 10 ngày 1 lần đo chiều cao, số lá, tốc độ ra cờ, phun râu.

- Năng suất.

3. Thu thập, xử lý, báo cáo và công bố kết qủa:

3.1. Thu thập số liệu

Mọi số liệu đã thu được ở các điểm khảo nghiệm trong mạng lưới khảo nghiệm cần được gửi về cơ quan chủ quản để xử lý.

3.2. Xử lý số liệu:

Những số liệu thu được qua khảo nghiệm cần được xử lý bằng các phương pháp thống kê thích hợp. Những kết luận của khảo nghiệm phải được rút ra từ những kết quả đã được xử lý bằng các phép tính thống kê đó. Cần gửi cả số liệu thô đã quan sát và phương pháp thống kê đã sử dụng.

Trường hợp ở các cơ sở chưa kiểm tra được kết quả khảo nghiệm bằng các phương pháp thống kê sinh học thì phải gửi kèm theo cả các số liệu thô thu được.

3.3. Nội dung báo cáo gồm:

Tên khảo nghiệm

Yêu cầu khảo nghiệm

Điều kiện khảo nghiệm:

- Nội dung khảo nghiệm

- Đặc điểm đất đai, canh tác, cây trồng, giống...

- Đặc điểm thời tiết (xem phụ lục 2).

- Tình hình phát sinh và thành phần cỏ dại.

Phương pháp thí nghiệm:

- Công thức thí nghiệm

- Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Số lần nhắc lại

- Kích thước ô thí nghiệm.

- Dụng cụ xử lý thuốc.

- Lượng thuốc dùng: kg (gam) hoạt chất/ ha .

- Ngày phun thuốc.

- Phương pháp kiểm tra và đánh giá hiệu quả của các thuốc khảo nghiệm.

Kết quả khảo nghiệm:

- Bảng số liệu quan sát

- Đánh giá hiệu lực của từng loại thuốc

- Nhận xét về tác động của từng loại thuốc đến cây trồng, sinh vật có ích và các tác động khác.

Kết luận và đề nghị

3. 4. Công bố kết quả:

Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật có trách nhiệm tập hợp các kết quả của các thí nghiệm, kết luận về hiệu qủa của từng loại thuốc đệ trình lên Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm. Bộ căn cứ vào các kết quả này sẽ quyết định loại thuốc mới nào được bổ sung vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật của Việt Nam.

4. Phụ lục

4.1 Phụ lục 1: Bảng phân cấp chỉ tiêu nhiễm thuốc của cây ngô

Cấp      Triệu chứng của cây ngô

0          Không có triệu chứng cây nhiễm, sinh trưởng tốt

1          Có triệu chứng nhẹ.

3          Có triệu chứng: Lá vàng, cây biến dạng nhưng không ảnh hưởng đến năng suất.

5              Có triệu chứng rõ rệt, cây trồng yếu đi, lá vàng. Có thể giảm năng suất.

7              Thiệt hại nặng, một số cây trồng chết, năng suất giảm nghiêm trọng.

9          Thiệt hại hoàn toàn.

4.2. Phụ lục 2: Đặc điểm thời tiết

Lấy các số liệu về nhiệt độ, (tối đa, tối thiểu, trung bình) tính bằng độ bách phân (oC), độ ẩm tương đối, tuyệt đối, lượng mưa trung bình (tính bằng mm), số giờ nắng trong suốt thời gian thí nghiệm... ở trạm khí tượng gần nhất.

Nếu nơi khảo nghiệm không gần các trạm khí tượng thì cần ghi tỉ mỉ tình hình thời tiết lúc tiến hành xử lý thuốc và ghi các điều kiện thời tiết đặc biệt xảy ra trong thời gian khảo nghiệm (nắng hạn, mưa lụt, bão gió...) có thể ảnh hưởng đến kết quả khảo nghiệm.

Tìm kiếm

Thông tin Tiêu chuẩn ngành 10TCN186:1993
Loại văn bảnTiêu chuẩn ngành
Số hiệu10TCN186:1993
Cơ quan ban hành
Người ký***
Lĩnh vựcNông nghiệp
Ngày ban hành...
Ngày hiệu lực...
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật3 năm trước