Tải về định dạng Word (207KB) Tải về định dạng PDF (699.1KB)

Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6329:1997 (CAC/RM 4 : 1969) về Đường - Xác định sunfua đioxit (theo phương pháp của Monier-Williams)

TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

TCVN 6329 : 1997

CAC/RM 4 : 1969

ĐƯỜNG - XÁC ĐỊNH SUNFUA DIOXIT (THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA MONIER-WILLIAMS)

Sugar - Determination of sulphur dioxide (According to Monier - Williams method)

1. Nguyên tắc của phương pháp

Chưng dung dịch mẫu thử đã axit hóa trong dòng cacbon dioxit qua bộ sinh hàn vào dung dịch hidro peroxit loãng tinh khiết và chuẩn độ thể tích axit sunfuric được tạo thành. Cũng có thể xác định axit sunfuric bằng phương pháp trọng lượng khi lượng SO2 rất nhỏ.

2. Lĩnh vực áp dụng

Phương pháp này có thể áp dụng khi có mặt các hợp chất sunfua bay hơi khác và các axit hữu cơ.

3. Thuốc thử

Thuốc thử phải là loại được công nhận dùng để phân tích.

3.1. Axit clohidric đậm đặc, tinh khiết và không chứa clo.

3.2. Cacbon dioxit tinh khiết, không chứa clo. Có thể lấy từ bình chứa CO2 lỏng có trang bị van điều chỉnh để khống chế tốc độ dòng khí theo ý muốn và sau đó được làm sạch (theo chú thích 1, điều 8).

3.3. Hidro peroxit (3%) tinh khiết không chứa axit sunfuric được chuẩn bị bằng cách pha loãng 10 ml H2O2 trung tính 30% loại tinh khiết phân tích với nước cất đến 100 ml.

3.4. Natri hidroxit dung dịch 0,1N (xem chú thích 2, điều 8).

3.5. Dung dịch chỉ thị xanh bromophenol (xem chú thích 2, điều 8).

4. Thiết bị

Thiết bị đặc biệt theo Monier-Williams được chỉ ra theo hình 1.

Một bình cầu đáy tròn dung tích 1 500 ml (A) có 2 cổ được nối với bộ sinh hàn (B), đầu trên của ống sinh hàn nối với ống thẳng đứng (C) có đường kính trong khoảng từ 4 mm đến 4,5 mm và nối với bình

Thiết bị để xác định sunfua dioxit theo Monier-Williams

Hình 1

5. Cách tiến hành

Đổ vào bình nón (D) và ống Peligot thứ nhất (E) mỗi bình 10 ml H2O2. Đổ vào ống Pedigot thứ 2 (F) 5ml hỗn hợp H2O2 và dung dịch bari clorua đã được axit hóa bằng HCl (vài giọt). Ống thứ 2 đóng vai trò là một ống bảo vệ để kiểm tra sự hấp thụ hoàn toàn SO2 trong hai bình thứ nhất. Tuy nhiên nó thường là không cần thiết (xem chú thích 3, điều 8). Sau khi nối thiết bị xong, cho 500 ml nước cất vào bình (A) cùng với 20 ml HCI và đun sôi dung dịch có dòng khí CO2 đi qua cho đến khi không khí được đuổi ra khỏi thiết bị. Sau đó làm nguội bằng cách nhúng bình vào một chảo nước. Trong khi làm nguội bình vẫn phải tiếp tục cho chạy CO2 và sau đó tháo nút (S) thật nhanh và cho mẫu vào. Nếu mẫu là chất lỏng nên dùng phễu có khóa để cho vào (không có trên hình vẽ) qua nút (S). Sau đó đun sôi hỗn hợp trong 1 giờ với dòng CO2 chạy chậm và ngưng cấp nước trong ống sinh hàn. Điều này làm cho ống sinh hàn và ống dẫn từ từ nóng lên và bất kỳ lượng SO2 nào bị giữ lại bởi hơi nước ngưng ở trong ống đều được chuyển vào bình hứng (D), bình này cần phải giữ nguội trong suốt quá trình thao tác bằng một bình nhỏ đựng nước lạnh. Ngay khi ống dẫn tại điểm H bị nóng thì tháo bình hứng ở điểm K. Rửa ống bằng một ít nước cất vào bình hứng D và chất chứa của bình E cũng được chuyển toàn bộ vào bình D khoảng 40 - 50 ml chất lỏng với dịch rửa được chuẩn độ ở nhiệt độ phòng với NaOH 0,1N, dùng bromophenol xanh làm chất chỉ thị (tốt nhất nên dùng microburet để chuẩn độ).

1 ml NaOH 0,1N tương ứng với 32 ppm SO2 trên 100 g mẫu. Nên dùng phương pháp khối lượng khi số liệu chuẩn độ nhỏ hơn 0,5 ml. Trong trường hợp nếu dùng phương pháp khối lượng để kiểm tra số liệu chuẩn độ thì việc kết tủa, lọc bari sunphat khỏi dịch cất đã axit hóa bằng bari clorua cần tiến hành trong bình có mỏ ở điều kiện lạnh (xem chú thích 4, điều 8)

6. Tính toán và biểu thị kết quả

Kết quả được biểu thị theo miligam SO2 trên kilogam và tính như sau:

a) Đối với kết quả dùng phương pháp chuẩn độ:

b) Đối với kết quả dùng phương pháp khối lượng:

1) CO2 được làm sạch bằng cách cho qua bình chứa dung dịch natri cacbonat loãng loại thuốc thử để khử clo, trước khi cho qua bình chưng cất.

2) Bromophenol xanh với mục đích này trong một số lĩnh vực thường thích hợp hơn metyl da cam, do chuyển từ màu vàng sang xanh qua giai đoạn màu xám nhẹ khá rõ rệt. Chỉ thị này chuyển màu pH từ 2,8 ÷ 4,6 và hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi CO2 và các vết nhẹ của các axit hữu cơ dễ bay hơi nhận được trong giai đoạn cuối của luồng hơi ra khỏi bình ngưng. NaOH 0,1 N sử dụng cần được chuẩn hóa bằng axit sunfuric với cùng một chất chỉ thị.

3) Vết nhẹ nhất của SO2 thoát ra sẽ làm đục bari sunfat ở ống thứ 2 (F). Trong thực nghiệm Monier-Williams chưa có trường hợp nào quan sát thấy điều này.

4) Hidro peroxit, ở điều kiện lạnh không oxi hóa hidrosunfua hoặc sunfua hữu cơ dễ bay hơi thành axit sunfuric và khi xác định SO2 trong các thực phẩm chứa hợp chất sunfua dễ bay hơi, thì H2O2 thường cho kết quả đáng tin cậy nhất với điều kiện việc kết tủa, lọc bari sunfat được tiến hành trong điều kiện lạnh. Tuy nhiên để tránh tủa bari sunfat khỏi bị nhiễm bẩn bởi bari clorua thì cần để lắng, chất lỏng ở trên cần phải rót qua bộ lọc và bari sunfat còn lại trong bình có mỏ phải rửa 3 lần bằng cách gạn với nước sôi trước khi rót qua bộ lọc.

7. Tài liệu tham khảo

Nhà phân tích Monier - Williams.GW (1927) 343 và 415 - Xác định sunfua dioxit trong thực phẩm - Báo cáo về các vấn đề y tế và sức khỏe cộng đồng. Số 43, trang 56 Bộ Y tế 1927, HM Văn phòng thường trực London.

Tìm kiếm

Thông tin Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN6329:1997
Loại văn bảnTiêu chuẩn Việt Nam
Số hiệuTCVN6329:1997
Cơ quan ban hành
Người ký***
Lĩnh vựcCông nghệ- Thực phẩm
Ngày ban hành...
Ngày hiệu lực...
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật3 năm trước